• Thủ tục hành chính
  • Đổi mới Giáo dục
  • Quy trình ISO
  • Số liệu thống kê giáo dục
  • Tra cứu thông tin tốt nghiệp
  • GVST
  • Tài liệu tham khảo
  • Hội khuyến học
  • Xét tuyển học bạ
  • banner vmg

Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai qua 5 năm đổi mới căn bản, toàn diện

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai đã có sự chuyển biến tích cực với nhiều thành quả quan trọng.

              Triển khai thực hiện Nghị quyết số 29, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 194-KH/TU và Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 10046/KH-UBND; các Sở, ban, ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã xây dựng kế hoạch hoặc lồng ghép vào các kế hoạch của cơ quan, đơn vị để triển khai thực hiện Nghị quyết, Kế hoạch của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 29-NQ/TW; phối hợp kịp thời trong việc thực hiện nhiệm vụ đổi mới, nâng cao chất lượng, phát triển giáo dục và đào tạo. Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành các Nghị quyết để đảm bảo cơ chế, chính sách về giáo dục và đào tạo.

              Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Kế hoạch triển khai đề án tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 - 2020 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Các trường phổ thông chú trọng công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức tư vấn tuyển sinh. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Báo Tuổi trẻ, Báo Thanh niên, Tỉnh Đoàn và các trường đại học tổ chức tư vấn tuyển sinh cho học sinh và phụ huynh học sinh. Học sinh, sinh viên được hỗ trợ thực hiện các dự án khởi nghiệp.

           Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt đề án đầu tư thiết bị phòng học bộ môn ngoại ngữ, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục phổ thông giai đoạn 2012 – 2020; cho đến nay các trường đã được đầu tư thiết bị phòng học ngoại ngữ và các thiết bị khác phục vụ dạy học ngoại ngữ theo hướng đầu tư thiết bị dạy học tiên tiến đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng đảm bảo đầy đủ các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trình độ ngoại ngữ của giáo viên dạy tiếng Anh được cải thiện rõ nét, số giáo viên đạt chuẩn năng lực tiếng Anh (B2) trên 80%.

                 Toàn tỉnh hoàn thành mục tiêu đạt chuẩn quốc gia về cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi duy trì kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở toàn tỉnh mức độ 1 và nâng phổ cập giáo dục tiểu học lên mức độ 2. Việc phổ cập bậc trung học hiện đang còn khó khăn vì chưa có quy định chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo về các tiêu chuẩn để thực hiện.

              Trên địa bàn tỉnh hiện có 25 trường tiểu học, 12 trường trung học cơ sở thực hiện thử nghiệm Mô hình trường học mới (VNEN). Kết quả thử nghiệm cho thấy mô hình có nhiều điểm tích cực, tạo được môi trường giáo dục thân thiện, dân chủ trong nhà trường và lớp học; học sinh tích cực, tự lực, tự quản trong học tập; mối liên hệ giữa nhà trường với cha mẹ học sinh và cộng đồng được tăng cường. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình trường học mới còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, chương trình, sách giáo khoa, nhất là cấp trung học cơ sở.

              Cuối năm học 2017 - 2018, có 49.012/49.033, tỷ lệ 99,96% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học (so với năm học 2012 – 2013 tăng 0,06%); có 40.119/40.444, tỷ lệ 99,2% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở (so với năm học 2012 - 2013 tăng 1,14%). Năm học 2014 - 2015, với việc đổi mới kỳ thi trung học phổ thông quốc gia, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 91,86% (23.955/26.078 học sinh tốt nghiệp), so với năm học trước giảm gần 8%. Sau ba năm tập trung chỉ đạo đổi mới dạy học theo hướng đổi mới thi cử, đến năm học 2017 - 2018 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 97,03% (26.276/27.080 học sinh tốt nghiệp).

           Học viên học văn hóa chương trình giáo dục thường xuyên có tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông nâng lên đáng kể với tỷ lệ 81,01%, so với năm 2013 tăng 11,22%. Nhiều trường ngoài công lập có học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ cao liên tục nhiều năm 99% - 100%; một số trường ở vùng nông thôn, vùng khó khăn đã nâng cao chất lượng giáo dục, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 97% - 99%.

            Năm 2015, đạt tỷ lệ 300 sinh viên/vạn dân các hệ đào tạo cao đẳng, đại học; tăng tỷ lệ học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng hàng năm bình quân tăng 10%/năm. Năm học 2016 - 2017, các trường đại học trên địa bàn tỉnh có 3.775 sinh viên tốt nghiệp (tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đạt 89%), trong đó có 1.982 sinh viên của tỉnh Đồng Nai; so với năm học 2012 - 2013, tính chung tăng 921 sinh viên tốt nghiệp, số sinh viên của tỉnh Đồng Nai tốt nghiệp tăng 1.529 sinh viên. Hoàn thành các mục tiêu của Chương trình 2 về đào tạo sau đại học giai đoạn 2011 - 2015; đến năm 2015, đào tạo 1.254 thạc sĩ (chỉ tiêu là 228 thạc sĩ), 142 tiến sĩ (chỉ tiêu là 28 tiến sĩ).

             Toàn tỉnh có 67 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó, Trường Cao đẳng: 12; Trường Trung cấp: 10; Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp: 25 và các cơ sở khác có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp: 20. Có 03 trường cao đẳng được chọn là trường chất lượng cao theo Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ; có 02 trường cao đẳng được Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức chọn đầu tư thành trung tâm đào tạo chất lượng cao chuẩn Quốc tế là Trường cao đẳng Công nghệ Quốc tế Lilama 2 và Trường cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi.

            Trên địa bàn tỉnh có 04 trường đại học, 01 phân hiệu trường đại học và 01 cơ sở 2 trường đại học, trong đó có Trường đại học Đồng Nai do Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp quản lý. Các trường, cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn tỉnh đào tạo 28.997 sinh viên (so với năm học 2012 - 2013 tăng 7.637 sinh viên), trong đó có 19.015 sinh viên tỉnh Đồng Nai (so với năm học 2012 - 2013 tăng 5.512 sinh viên); Trường đại học Đồng Nai đào tạo 5.529 sinh viên ngành sư phạm (so với năm học 2012 - 2013 tăng 1.148 sinh viên).

            Tính đến cuối năm học 2017 – 2018 toàn tỉnh có 823/831 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên hoàn thành tự đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục, tỷ lệ 98,55%; trong đó có 174/831 cơ sở giáo dục đã được đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục, tỷ lệ 20,94%. Từ năm 2013 đến năm 2017, tất cả các trường cao đẳng, trung cấp công lập đều tổ chức tự kiểm định đạt cấp độ 3, các đơn vị đã được kiểm định (đánh giá ngoài) đạt cấp độ 3. Các trường đại học đã tiến hành hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục, thực hiện tự đánh giá và đánh giá ngoài. Trường đại học Lạc Hồng đã được cấp Giấy Chứng nhận kiểm định theo Quyết định số 05/QĐ-TTKĐ ngày 16/3/2018 của Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời đã đăng ký kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo Bộ tiêu chuẩn AUN-QA và Bộ tiêu chuẩn quốc tế (ABET) 2 chương trình: Chương trình kỹ thuật điện, điện tử của Khoa Cơ điện – Điện tử; Chương trình công nghệ thông tin của Khoa Công nghệ thông tin.

          Toàn tỉnh hiện có 885 trường mầm non và phổ thông, so với năm 2013 tăng 95 trường, trong đó, tăng mạnh trường mầm non với 75 trường tăng thêm. Tổng số học sinh mầm non, phổ thông toàn tỉnh hiện nay là 682.410, so với năm 2013 tăng 150.460 học sinh, tăng mạnh học sinh mầm non và tiểu học với 93.082 học sinh mầm non và 42.680 học sinh tiểu học tăng thêm.

            Năm học 2017 - 2018, mạng lưới cơ sở giáo dục ngoài công lập, có 99 trường mầm non, 1.067 nhóm lớp mầm non tư thục, 05 trường tiểu học, 03 trường trung học cơ sở, 24 trường trung học phổ thông. So với năm học 2012 - 2013, tăng 64 trường mầm non, 285 nhóm trẻ độc lập tư thục, 01 trường tiểu học, 01 trường trung học cơ sở, 03 trường trung học phổ thông.

            Quy mô học sinh mầm non, phổ thông ngoài công lập:

 

TS học sinh

Mầm non

Tiểu học

THCS

THPT

Năm học 2017 – 2018 (Số HS)

139.347

104.548

6.190

6.189

22.420

Tỷ lệ (%)

20,36

56,63

2,37

3,77

29.96

So với năm học 2012-2013 (Số HS tăng thêm)

92.216

83.977

3.891

3.278

1.070

Tỷ lệ tăng thêm (%)

29,25

34,16

1,32

1,78

3,33

Ở một số khu công nghiệp, tập trung đông công nhân, các công ty, tập đoàn (Tập đoàn Phong Thái, Công ty Taekwang - Việt Nam, Công ty Pouchen - Việt Nam,..) đã xây dựng trường mầm non có quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại phục vụ con em công nhân. Ủy ban nhân dân tỉnh đã có định hướng phát triển trường mầm non tư thục đến năm 2022, giảm dần số nhóm trẻ độc lập tư thục nhằm đảm bảo đầy đủ điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ngoài công lập. Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết hỗ trợ cơ sở vật chất cho các nhóm trẻ tư thục ở khu vực có nhiều công nhân lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020.

              Nhu cầu học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ để học tập, làm việc ngày càng tăng, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 108 trung tâm ngoại ngữ. So với năm 2013, phần lớn là cơ sở giảng ngoại ngữ, đến nay tất cả đã được đầu tư đảm bảo điều kiện để trở thành trung tâm theo quy định, tổ chức hoạt động có chất lượng, hiệu quả; hàng năm có hơn 18 ngàn lượt người tham gia học tập. Sở Giáo dục và Đào tạo đã thường xuyên kiểm tra nhằm bảo đảm các trung tâm phải duy trì đủ điều kiện hoạt động, tổ chức giảng dạy, thi cử, cấp chứng chỉ theo đúng quy định.

               Toàn tỉnh có 38 cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngoài công lập, so với thời điểm năm 2013, tăng 08 cơ sở. Qua đó đã góp phần đáng kể vào việc đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 53,19% năm 2016 lên 56,78% cuối năm 2017.

              Trên địa bàn tỉnh có 03 trường đại học ngoài công lập (Lạc Hồng, Công nghệ Đồng Nai, Công nghệ Miền Đông) do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý với 14.688 sinh viên, chiếm tỷ lệ 50,65% trong tổng số sinh viên, trong đó có 6.556 sinh viên tỉnh Đồng Nai, chiếm tỷ lệ 34,48% trong tổng số sinh viên của tỉnh Đồng Nai; so với năm học 2012 - 2013 tính chung tăng 5.352 sinh viên, riêng sinh viên của tỉnh Đồng Nai tăng 2.873 sinh viên.

            Tiếp tục triển khai thực hiện Kế hoạch số 3111/KH-UBND ngày 24/4/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020” trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Mỗi năm có khoảng 1,4 triệu lượt người tham gia học tập tại các Trung tâm học tập cộng đồng. Qua 05 năm triển khai thực hiện Kế hoạch số 3111/KH-UBND, tỉnh đã cử 84.142 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng. Từ năm 2012 đến năm 2017, đào tạo nghề lao động nông thôn cho 51.104 người. Trong giai đoạn 2013 - 2015, ngân sách tỉnh đã đầu tư hơn 27,5 tỷ đồng cho các dự án đổi mới, phát triển dạy nghề; dự án hỗ trợ phát triển thị trường lao động, hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; dự án hỗ trợ giáo dục mầm non năm tuổi.

             Thực hiện Luật Giáo dục nghề nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, các Sở, ngành liên quan thống nhất một đầu mối quản lý mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.

             Các cơ sở giáo dục và đào tạo được đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính; chủ động phát huy phù hợp, hiệu quả các nguồn lực để xây dựng, phát triển nhà trường; tổ chức thực hiện có hiệu quả việc tự chủ trong xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường, giáo viên được tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục, điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp với yêu cầu đổi mới dạy học, theo nhu cầu thị trường lao động, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình giáo dục nghề nghiệp (xây dựng chương trình đào tạo, giảng dạy và đánh giá học sinh, sinh viên...).

               Số lượng, trình độ đào tạo của cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên:

 

Năm học 2017 - 2018

So với năm học 2012 - 2013

Cán bộ quản lý

Giáo viên

Cán bộ quản lý

Giáo viên

Tổng số người

2.030

32.570

Tăng 92

Tăng 4.943

Trình độ đào tạo trên chuẩn

 

 

 

 

- Giáo dục mầm non (%)

92,82

53,23

Tăng 1,88

Tăng 2,08

- Tiểu học (%)

99,31

92,17

Tăng 3,83

Tăng 8,68

- THCS (%)

94,94

73,61

Tăng 5,03

Tăng 19,34

- THPT (%)

38,89

11,74

Tăng 25,07

Tăng 3,76

             Tỷ lệ giáo viên mầm non trường công lập có trình độ đào tạo trên chuẩn đạt 76,76%, trường ngoài công lập là 30,68%. Số lượng giáo viên mầm non ngoài công lập tăng nhiều nhưng chưa có điều kiện để bồi dưỡng nâng cao trình độ đào tạo. Vì thế, trong thời gian tới khó đạt được chỉ tiêu (tính chung công lập và ngoài công lập) đến năm 2020 là 80% giáo viên mầm non có trình độ đào tạo trên chuẩn.

              Toàn tỉnh hiện có 3.215 giáo viên dạy nghề, trong đó: 1.969 giáo viên cơ hữu và 1.246 giáo viên thỉnh giảng. Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn được đào tạo như sau: Trên đại học 945 người, tỷ lệ 29,39%; đại học 1.510 người, tỷ lệ 46,97%; cao đẳng, trung cấp và trình độ khác 760 người, tỷ lệ 23,64%. Tỷ lệ giảng viên cao đẳng là tiến sĩ đạt 6,86%; khó đạt chỉ tiêu đến năm 2020 là 9,0% theo Kế hoạch số 194-KH/TU.

              Các trường đại học trên địa bàn tỉnh có 137 cán bộ quản lý, 991 giảng viên. Giảng viên có trình độ thạc sĩ chiếm tỷ lệ 86% (so với năm học 2012 - 2013 tăng 35%) và có trình độ tiến sĩ chiếm 23% (so với năm học 2012 - 2013 tăng 11%).

            Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương tiếp tục nhất quán quan điểm xem giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; tỷ lệ ngân sách của tỉnh đầu tư cho giáo dục hiện nay là 28%. Quản lý tài chính giáo dục theo đầu mối thống nhất, phân bổ ngân sách giáo dục phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương, đảm bảo cơ chế tự chủ của cơ sở giáo dục và đào tạo.

              Năm 2017, ngân sách nhà nước tỉnh đầu tư cho giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp là 5.220 tỷ đồng (so với năm 2013 tăng 1.537 tỷ đồng), chiếm tỷ lệ 31%. Trong đó, chi cho đầu tư xây dựng cơ bản 740 tỷ đồng (so với năm 2013 tăng 135 tỷ đồng), chi thường xuyên 4.480 tỷ đồng (so với năm 2013 tăng 1.402 tỷ đồng).

             Ngân sách nhà nước đã tập trung vào việc xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất trường học, đầu tư trang thiết bị dạy học, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; đáp ứng kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách cho người dạy và người học. Trong đó, ưu tiên đầu tư cho cho các địa phương khó khăn, các địa phương có quy mô học sinh phát triển nhanh; đầu tư xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia để đủ điều kiện đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới; đầu tư phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực.

               Kinh phí xã hội hóa của nhà đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ngoài công lập năm 2015 là 204 tỷ đồng (so với năm 2013 tăng 55,4 tỷ đồng); năm 2017 là 151,61 tỷ đồng (so với năm 2013 tăng 3,02 tỷ đồng). Quỹ đất dành cho phát triển cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập là 46,2 ha (so với năm 2013 tăng 18,2 ha); trong đó, đất sạch giao cho nhà đầu tư là 6,8 ha (so với năm 2013 tăng 4,9 ha).

             Từ năm 2013 đến hết năm 2017, Trường đại học Lạc Hồng đã đầu tư kinh phí tất cả là 188,939 tỷ đồng để xây dựng phòng thí nghiệm, mua sắm trang thiết bị dạy học, sữa chữa phòng học. Riêng năm 2017 là 41,924 tỷ đồng, không tăng so với năm 2013. Năm 2017, nhà trường đã làm thủ tục để Ủy ban nhân dân tỉnh cấp thêm 02 ha đất ở khu phố 4, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa; kinh phí đền bù khu đất này là do Trường đại học Lạc Hồng chi trả theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

            Từ năm 2014 đến nay, các cơ sở dạy nghề ngoài công lập trên địa bàn tỉnh không tăng về số lượng; nhà đầu tư không đủ nguồn lực đầu tư mới hoặc thay thế, bổ sung những thiết bị dạy nghề cũ, hoạt động chủ yếu từ nguồn thu học phí của học viên nên không thu hút được học viên, không cạnh tranh được với những cơ sở dạy nghề khác, do vậy chỉ hoạt động cầm chừng và một số phải giải thể.

Đến nay, kết quả xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia trong hệ thống trường công lập đạt được như sau:

 

Mầm non

Tiểu học

THCS

THPT

Số trường đạt chuẩn

109

136

92

18

Tỷ lệ (%)

48,44

45,63

53,18

38,30

So với năm học 2012 – 2013 (số trường tăng thêm)

63

61

48

05

Tỷ lệ tăng thêm (%)

27,34

20,01

26,99

8,07

            So với chỉ tiêu đề ra đến năm 2020, tỷ lệ trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia còn thấp, khó có khả năng đạt được chỉ tiêu 90% theo Kế hoạch số 194-KH/TU.

             Từ năm 2014 đến nay đã xây dựng mới cơ sở vật chất 179 trường học, trong đó, phần lớn là trường mầm non, tiểu học. Các công trình trường học mới đều được xây dựng đạt chuẩn về cơ sở vật chất, đầy đủ các phòng chức năng, phòng học theo quy cách quy định; bàn ghế học sinh được trang bị theo thiết kế mới đáp ứng yêu cầu đổi mới hình thức, phương pháp dạy học trên lớp. Tỷ lệ phòng học được xây dựng kiên cố cao tầng cấp học mầm non là 44,6%, tiểu học 70,8%, trung học cơ sở 88,2% và trung học phổ thông 94,4%.

             Trong 05 năm qua, trên địa bàn tỉnh có 30 chương trình, dự án phát triển giáo dục do các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tài trợ với kinh phí viện trợ là 1.029.557 USD (khoảng 22.650.254.000 đồng). Các nguồn tài trợ tập trung xây dựng phòng học, góp phần cải thiện điều kiện cơ sở vật chất trường học, huy động học sinh ra lớp.

            Từ nguồn vốn ODA, hiện nay Trường cao đẳng Công nghệ quốc tế Lilama 2 đã được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề hiện đại; đủ tiêu chuẩn đào tạo các nghề trình độ cao đẳng theo chuẩn quốc tế, đào tạo giáo viên.

          Trường đại học Lạc Hồng và Tập đoàn pháp nhân Mabuchi International Scholarship Foundation (viết tắt là MISF), đã ký bản Hợp đồng quản lý hoạt động nghiệp vụ Quỹ học bổng Mabuchi vào ngày 01/10/2015. Quỹ này nhằm thực hiện tình hữu nghị giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng như để tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục thông qua việc cấp một khoản vay không lãi suất (còn gọi là “Học bổng tín dụng”). Sinh viên tham gia nhận được số tiền 1.000.000đồng/tháng, tức 10.000.000đồng/năm học. Sau khi sinh viên tốt nghiệp có việc làm sẽ hoàn trả số tiền tối thiểu cho Quỹ là 1.000.000đồng/tháng. Số tiền hoàn trả bằng số tiền nhận từ Quỹ. Số tiền trong Quỹ sẽ tiếp tục cho sinh viên các khóa sau tham gia.

              Trường đại học Đồng Nai có nguốn vốn của tổ chức NIPPON FOUN DATION - Nhật Bản cho Dự án Giáo dục Trung học - Đại học cho người Điếc Việt Nam (thực hiện từ năm 2009). Số vốn khoảng 40.000USD/năm. Đây là một Dự án quan trọng góp phần tạo điều kiện phát triển Trung tâm Nghiên cứu và thúc đẩy Văn hóa Điếc - Trường đại học Đồng Nai nói riêng và phát triển giáo dục cho người khiếm thính khu vực phía Nam nói chung.

               Nhìn chung, quy mô, mạng lưới cơ sở trường, lớp, học sinh, học viên, sinh viên phát triển; chất lượng giáo dục và đào tạo toàn diện được nâng lên; đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo bổ sung, đào tạo lại, bồi dưỡng đạt chuẩn và nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ; hệ thống cơ sở giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp đáp ứng được nhu cầu học tập, đào tạo, bồi dưỡng cho người lao động. Công tác quản lý giáo dục từng bước được đổi mới, phát huy tốt mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học từng bước được đầu tư hoàn chỉnh theo hướng đạt chuẩn, tiên tiến đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp.

               Bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế nhất định: Tình trạng trường, lớp giáo dục mầm non chưa đáp ứng nhu cầu gửi trẻ và đảm bảo chất lượng nuôi dạy trẻ, phát sinh nhiều nhóm trẻ độc lập tư thục khó quản lý; tình trạng sĩ số học sinh trên lớp vượt mức quy định ở cấp tiểu học, trung học cơ sở tại thành phố Biên Hòa và các địa phương có khu công nghiệp phát triển như huyện Trảng Bom. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp của địa phương phát triển chậm, chưa đảm bảo chất lượng đào tạo và chưa đáp ứng yêu cầu lao động nên phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở còn hạn chế. Công tác đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục chưa thực sự phù hợp trong giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp.

            Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW và Kế hoạch 194-KH/TU, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo tăng cường phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục những khó khăn, hạn chế trong thời gian qua đối với việc phát triển hệ thống trường lớp giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp; chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, huy động nguồn lực tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp. Tập trung tháo gỡ khó khăn, phấn đấu thực hiện có hiệu quả các mục tiêu về phổ cập bậc trung học; nâng cao trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông theo Kế hoạch số 194-KH/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa IX)./.

Bửu Tùng – Phó Chánh Văn phòng Sở GDĐT

Các tin khác

Videos - Clips

Bế mạc và trao giải cuộc thi Lập trình giả lập Robotics tại Đồng Nai